Hiển thị các bài đăng có nhãn GraphicK. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GraphicK. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011

đổi khuôn mặt giữa các bức ảnh

Lấy khuôn mặt của người này dán vào cơ thể người khác là một trong những thủ thuật Photoshop được sử dụng rất phổ biến hiện nay nhờ các thao tác đơn giản.

Trước tiên, người dùng mở 2 bức ảnh cần tráo đổi:
Bấm Ctrl+C để copy khuôn mặt và Ctrl + V để dán vào ảnh còn lại:

Bấm Ctrl+T để chuyển sang chế độ Tranform (thay đổi hình dạng). Di chuyển và chỉnh kích thước khuôn mặt sao cho vừa với phần cơ thể trong ảnh:
Trong layer chứa "đầu mới", chọn công cụ xóa (Eraser) để xóa nền (background) thừa xung quanh đầu:
Chọn công cụ Clone Stamp Tool để loại bỏ những chi tiết lộ ra của đầu cũ 
                  (xem thêm cách sử dụng Clone Stamp Tool):
Vào Image -> Adjustments -> Hue/Saturation và Image -> Adjustments -> Brightness/Contrast để điều chỉnh và cân bằng lại màu, độ sáng của 2 lớp ảnh.


                                                        (Ảnh: Tutorials-photoshop, PC World)

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

PHẦN MỀM NÉN ẢNH MIỄN PHÍ VÀ HIỆU QUẢ


FILEminimizer Pictures là một phần mềm miễn phí giúp giảm kích thước hình ảnh lên đến 98% bằng các sử dụng kĩ thuật tối ưu hóa tập tin gốc. Sau khi nén, những tấm photo hay bức ảnh của bạn giảm kích thước đáng kể và vẫn đảm bảo chất lượng ảnh ban đầu.
Dễ dàng chia sẻ ảnh trực tuyến qua Flickr và gửi cho bạn bè của bạn qua Email. Với công cụ Facebook upload của FILEminimizer, bạn sẽ thoải mái upload ảnh lên Facebook, không lãng phí nhiều thời gian của bạn.

 Những tính năng của FILEminimizer Pictures:
- Nén các tập tin ảnh JPEG lên đến 98% – giảm kích thước dung lượng các tập tin JPEG của bạn từ 5MB xuống còn 0.1MB.
- Nén được cả những hình ảnh có định dạng BM, GIF, TIFF, PNG và EMF.
- Giữ nguyên định dạng tập tin ban đầu– chỉ cần chỉnh sửa, xem và thay đổi nó mà không cần phải giải nén.
- Nén toàn bộ album ảnh kỹ thuật số cùng một lúc bằng cách sử dụng tiến trình hàng loạt (batch).
- Chọn mức độ nén thích hợp nhất từ 4 tùy chọn khác nhau.
- Nén và upload ảnh trực tiếp lên Facebook.
- Tích hợp chức năng tìm kiếm (search) tìm thấy tất cả các tập tin ảnh đã tối ưu hóa trên máy tính của bạn.
- Hỗ trợ chức năng “Kéo & Thả” trực tiếp tập tin vào FILEminimizer Pictures để tối ưu hóa các tập tin cùng một lúc.
- Hoàn toàn tương thích với Windows 7.
Yêu cầu hệ thống:
Windows 98/Me/NT/2000/2003/XP/Vista/7
Tối thiểu 266MHz Pentium
128MB RAM
30MB dung lượng ổ cứng trống
Tải FILEminimizer Pictures miễn phí tại đây:FILEminimizerPictures-Free-Setup.rar 4832K

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Bí quyết sử dụng và bảo quản máy ảnh số

Máy ảnh kĩ thuật số (KTS) ngày càng rẻ, phù hợp với túi tiền của nhiều người tiêu dùng. Đây là một sản phẩm số nên việc sử dụng và bảo quản đúng cách sẽ giúp máy ảnh KTS bền hơn.
Hầu hết máy chụp hình KTS phải sửa chữa là do lỗi va chạm, làm rơi dẫn đến hư ống kính hoặc màn hình LCD. Ngoài ra, máy có thể bị nhiễm ẩm và hư bo mạch bên trong. Tuy nhiên, để bảo quản tốt chiếc máy ảnh của mình cũng không phải là việc quá khó khăn.
Lưu ý khi sử dụng
  • Khi mua máy về, hãy tìm hiểu cách sử dụng cơ bản thường có trong sách hướng dẫn sử dụng kèm theo máy, cách lắp và sạc pin lúc ban đầu.
  • Tuyệt đối tránh để máy phải chịu những va chạm.
  • Khi lấy thẻ nhớ, pin ra khỏi máy nhớ tắt máy để máy không bị sốc.
  • Trong quá trình sử dụng, hạn chế để lâu trong môi trường bất lợi, có thể chỉ chụp 1 tấm nếu muốn sau đó tắt máy và cất đi ngay.
  • Tránh để trên nóc ti vi, đầu máy vì ở đó sự tỏa nhiệt sẽ gây ảnh hưởng đến vi mạch của máy chụp ảnh.
  • Khi sử dụng, hãy học cách điều chỉnh chế độ chụp phù hợp. Một bức ảnh đẹp được tạo nên một phần vì bản thân công nghệ của máy và chế độ chụp ảnh do người sử dụng chọn lựa phù hợp.
Tránh hư hỏng pin
  • Với pin Lithium, người dùng có thể sạc “nhồi” (sạc pin khi chưa dùng hết năng lượng) nhưng sử dụng hết rồi sạc vẫn là cách tối ưu. Với pin tiểu dạng sạc, tuyệt đối chỉ sạc điện khi đã dùng hết năng lượng dự trữ. Pin tiểu dạng sạc giúp bạn tiết kiệm hơn nhiều so với mua những loại pin dùng 1 lần rất đắt đỏ cho máy KTS.
  • Thời gian bạn không sử dụng máy khoảng một tuần trở lên thì nên tháo pin cất đi. Nếu bạn để pin trong máy quá lâu, mặt lithium sẽ bị tổn hại, pin nhanh chai hơn.
  • Không để máy ảnh chung với quần áo vì đó là vật dụng có đặc tính hút ẩm, trong môi trường ẩm ướt, độ ẩm cao sẽ tác động không tốt đến tuổi thọ máy.
  • Mỗi cuốn sách hướng dẫn sử dụng đều ghi rõ giới hạn nhiệt độ máy có thể chịu đựng được, người dùng nên tuân thủ. Ngoài ra cũng không nên để máy tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, gần từ trường (chẳng hạn ở phía trước ti vi CRT) vì sẽ gây xáo trộn các chương trình cài đặt sẵn trong máy, dẫn đến hư máy.
Theo Phunuonline.com

Độ phân giải hình ảnh - yếu tố quyết định bản in đẹp

Khi nói đến hiệu chỉnh hình ảnh, độ phân giải là một trong những khái niệm quan trọng nhất phải nắm vững để in ra những bức ảnh trông đẹp mắt.
Bài viết này sẽ giúp bạn tìm hiểu độ phân giải thực sự là gì, khi nào bạn cần quan tâm về độ phân giải, và làm thế nào để kết hợp được các khái niệm này vào hình ảnh được in ra sau cùng của bạn.
Để hiểu được tất cả về độ phân giải, chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét kỹ lưỡng các ảnh kỹ thuật số của mình để xem chúng gồm những gì.
Định nghĩa pixel và độ phân giải
Mở một bức ảnh trong trình hiệu chỉnh hình ảnh mà bạn đã chọn và phóng to bằng công cụ Zoom hay Magnify (trong cả Photoshop và Photoshop Elements, trên máy Mac bạn có thể nhấn giữ phím Command và phím + liên tục để phóng to). Chẳng bao lâu, bạn sẽ thấy các ô vuông có màu. Những khối màu này được gọi là pixel (điểm ảnh), và tất cả các điểm ảnh này tạo thành hình ảnh bạn thấy trên màn hình. Tùy theo thiết lập chất lượng của máy ảnh số của bạn, bức ảnh có thể có vài trăm hay vài nghìn pixel theo chiều rộng và chiều dài.
Pixel không có kích thước định trước - nó có thể rất nhỏ hay rất lớn. Phép tính chi phối kích thước của pixel được gọi là độ phân giải. Thật vậy, thiết lập chất lượng trên máy ảnh số của bạn xác định số pixel chụp được là bao nhiêu khi bạn bấm nút đóng màn trập, nhưng có ai biết được các pixel này lớn cỡ nào. Trước khi bạn gửi lệnh in các ảnh này đến máy in, bạn cần phải đảm bảo rằng các điểm ảnh này đủ nhỏ để mắt thường không thấy được chúng.
Pixel không có kích thước định trước - nó có thể rất nhỏ hay rất lớn
Trong lĩnh vực in ảnh, độ phân giải được tính bằng dpi (dots per inch) là số điểm nằm trên diện tích 1-inch vuông, điều này có thể hiểu được vì hầu hết các máy in đều in thành điểm. Đối với hình ảnh trên màn hình – của máy tính, TV, plasma, hay máy chiếu – độ phân giải được tính bằng ppi (pixels per inch).
Tác động giữa pixel và độ phân giải
Độ phân giải chi phối kích thước của điểm ảnh (pixel) bằng cách xác định có bao nhiêu pixel được gom lại trong cùng một chỗ (được xem là mật độ pixel). Khi bạn tăng độ phân giải hình ảnh, pixel sẽ nhỏ hơn để có thể gom nhiều pixel hơn. Kết quả là kích thước in vật lý sẽ nhỏ hơn bởi vì các pixel nhỏ hơn này chiếm ít diện tích hơn các pixel lớn, dù pixel nhỏ hơn sẽ cho ra ảnh in mượt chất lượng cao. Hình ảnh độ phân giải thấp có ít pixel hơn được gom trong cùng một chỗ, điều này cho phép chúng có kích thước lớn hơn. Kết quả là kích thước in vật lý sẽ lớn hơn (các pixel lớn hơn chiếm nhiều diện tích hơn), ảnh in ra trông giống như được làm với các mảnh ghép Lego vì các pixel này lớn đến nỗi bạn có thể thấy từng điểm ảnh.
Khái niệm này dễ hiểu hơn nếu liên hệ với thực tế. Giả dụ bạn đang nướng bánh. Khi bạn cho đường màu nâu vào cốc đong (cốc định lượng), đường có thể lên đến mức đầy một cốc. Nhưng khi bạn nén chặt hạt đường vào trong cốc, đường bị nén xuống còn nửa cốc. Bạn vẫn có cùng số hạt đường (giống như số pixel); chúng chỉ bị nén chặt lại với nhau trong cùng một giới hạn vật chất của cốc đong (như ảnh của bạn). Các hạt đường không nén chặt ban đầu có thể ví như độ phân giải thấp, và các hạt bị nén chặt được ví như độ phân giải cao.
Độ phân giải chỉ quan trọng khi in ảnh
Độ phân giải chỉ quan trọng khi in ảnh
Máy in là một trong số ít các thiết bị có thể làm bất cứ điều gì với kích thước độ phân giải. Bạn có thể in ảnh độ phân giải thấp (72 ppi) và ảnh độ phân giải cao (300 ppi), và bạn sẽ có kết quả khác nhau: một ảnh in ra có từng khối và một ảnh mượt mà. Màn hình hiển thị máy tính, máy chiếu, và các thiết bị hiển thị kỹ thuật số khác, tất cả đều khác nhau vì trình điều khiển video – phần mềm kiểm soát những gì bạn thấy trên màn hình – đang kiểm soát độ phân giải để hiển thị. Vì thế, một ảnh 72 ppi xem giống y như một ảnh 600 ppi. Đó là lý do tại sao khái niệm độ phân giải lại khó hiểu đến thế - bạn không thể thấy được các thay đổi về độ phân giải trên màn hình.
Sự thực là độ phân giải chỉ quan trọng khi bạn đem ảnh đi in. Nếu ảnh của bạn được dự định để luôn xem trên màn hình – trên trang web, trong bài thuyết trình, hay để chiếu slide – độ phân giải không quan trọng vì người xem không thể thấy được sự khác nhau giữa các độ phân giải với nhau.
PCWorld (Theo Macworld )

Ống kính máy ảnh và những điều cần biết

Ống kính góc rộng có thể lấy nét đối với các vật thể ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Ống kính zoom thì luôn là con dao hai lưỡi. Dưới đây là 10 tổng kết của trang ảnh Popphoto.
1. Tiêu cự trung bình chỉ là tương đối
Ống kính máy ảnh là một thiết bị tối quan trọng, có tác dụng hội tụ các tia sáng về trên tấm phim hoặc cảm biến ảnh, trong đo,́ người ta sử dụng khái niệm tiêu cự để chỉ khoảng cách từ tiêu điểm đến bề mặt tấm phim hoặc cảm biến ảnh. Tiêu cự ảnh hưởng đến góc nhìn tạo ra trên ảnh nên được chia thành 3 dải chính là dải tiêu cự trung bình cho góc nhìn "thực" tương đương với góc nhìn của mắt người, dải tiêu cự ngắn cho góc nhìn rộng hơn và dải tiêu cự dài cho góc nhìn hẹp hơn.
Tuy nhiên, góc nhìn trên ảnh còn bị ảnh hưởng bởi kích thước cảm biến ảnh, cảm biến càng to thì càng ghi lại được nhiều chi tiết. Vì vậy, để cho một góc nhìn tương đương nhau thì cảm biến ảnh lớn cần dùng ống kính có dải tiêu cự dài hơn, trong khi cảm biến ảnh cỡ nhỏ cần loại ngắn hơn.
Tiêu cự trung bình là khái niệm dùng để chỉ khoảng tiêu cự có khả năng tạo ra góc nhìn tự nhiên khi chụp ở cự ly chụp trung bình. Theo quy ước, các tiêu cự này thường dài hơn một chút so với độ dài đường chéo của tấm phim hay cảm biến ảnh. Đối với cảm biến ảnh full-frame, đường chéo là 43mm thì tiêu cự trung bình vào khoảng 50mm.
Đối với cảm biến APS-C có đường chéo 28mm thì tiêu cự 35mm được coi là trung bình. Tương tự với cảm biến trên máy ảnh 4:3 là 25mm, còn máy ảnh du lịch thông thường là 8mm. Do đó, người cầm máy ảnh nên chụp các đối tượng, cảnh vật xung quanh bằng tiêu cự trung bình để tìm ra những góc nhìn mới lạ.
2. Chụp góc rộng để lấy cảnh xa
Ống kính góc rộng có thể lấy nét vào các vật ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Trước hết, hãy nhìn người đối diện ở cự ly cực gần. Bạn sẽ có cảm giác là góc nhìn bị méo, nhưng không hẳn mà đó là góc nhìn thật khi mắt tập trung vào đối tượng gần hơn bình thường. Mức độ phóng đại ở đây, rõ ràng là không phải do tiêu cự quyết định mà do sự tiếp cận, nghĩa là bạn có thể phóng to kích thước đối tượng với một ống kính tiêu cự trung bình nhưng có khả năng lấy nét cực gần.
Ống kính góc rộng có thể lấy nét đối với các vật thể ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Đặc điểm này cho phép dân chụp tự nhiên sử dụng đối tượng tiền cảnh – bụi cây, tảng đá, hoa cỏ – để đặt điểm nhấn tạo bố cục ảnh. Bên cạnh đó, ống kính siêu rộng còn có thể tạo ra cảm giác về độ sâu, gần như kiểu ảo giác 3 chiều.
Do đó, nên chụp ảnh theo chiều thẳng đứng để tăng cường cảm nhận xa gần trong bức ảnh chụp ở góc rộng. Phương pháp này có thể thu được từ tiền cảnh rất gần đến hậu cảnh phía đằng xa.
3. Khoảng cách
Một thử nghiệm khác: sử dụng ống kính tiêu cự lớn để chụp các nhóm dối tượng ở xa như núi non, tòa nhà, cây cối… sau đó vẫn giữ nguyên vị trí máy và chụp lại chúng bằng ống kính tiêu cự trung bình. Tiếp theo, trong phần xử lý hậu kỳ crop bỏ đi các chi tiết ở xa trong ảnh chụp bằng ống kính tiêu cự trung bình. Kết quả cho thấy góc nhìn trên các ảnh này tương đương với ảnh chụp tại tiêu cự lớn.
Với các ảnh chụp từ xa, góc nhìn sẽ tập trung hơn vào các đối tượng ở xa – kiểu như tách rời khỏi các đối tượng khác – không phải do tiêu cự lớn mà vì các đối tượng đều tương đối xa từ máy ảnh. Mắt người cũng có cơ chế hoạt động tương tự nhưng có xu hướng không chú ý đến đối tượng
Ống kính tele cho phép có thể lấy cận các chi tiết mà không cần phóng to ảnh lên – cũng đồng thời làm giảm chất lượng ảnh. Ngoài ra, khoảng cách vừa phải còn cho phép chụp những bức ảnh chân dung vừa khuôn hình mà không bị phóng đại các chi tiết.
Do đó, khi chụp ảnh phong cảnh, người chụp không dựa vào mắt thường để phân biệt các đối tượng ở xa mà hãy sử dụng ống kính tele quét qua đường chân trời để tìm các bố cụ̣c hợp lý.
4. Ống kính zoom luôn chậm
Ống kính zoom luôn là con dao hai lưỡi. Điểm mạnh là nó có thể dễ dàng thay đổi tiêu cự mà không cần thay ống kính. Nhưng cũng vì thế người ta sẽ quên mất là mình có đôi chân. Nếu chỉ đứng ở một chỗ, không đổi cách cầm máy, người chụp chỉ đơn giản phóng to thu nhỏ được chứ không thay đổi được góc nhìn.
Một điểm yếu nữa của ống kính zoom là luôn "chậm" hơn ống kính tiêu cự cố định, nghĩa là cho ít ảnh sáng vào hơn. Dải tiêu cự càng dài, ống kính càng chậm. Và để đổi lại một ống kính zoom thuộc loại tương đối nhanh (f/2.8 là nhanh nhất vào thời điểm hiện nay) thì cái giá bỏ ra không phải rẻ.
Vì vậy, khi chụp ảnh với ống kính zoom tiêu cự dài, người chụp nên tiến lại gần đối tượng hơn để có thể chụp được ảnh với góc rộng hơn, đồng thời có thể thay đổi được nhiều góc nhìn.
5. Trị số khẩu độ
Ảnh này được chụp bằng ống kính Tamron 17-50mm f/5.6Trị số khẩu độ biểu thị độ mở của ống kính theo công thức đơn giản sau: chiều dài tiêu cự ống kính chia cho đường kính vòng tròn độ mở.
Ví dụ, với ống kính 50mm có độ mở 25mm được ký hiệu là f/2. Khép khẩu xuống 12,5mm thì trị số này là f/4.
Trị số này áp dụng trên mọi hệ máy là như nhau: f/8 ở máy du lịch cũng tương tự f/8 ở DSLR hay máy khổ rộng. Đồng thời nó giúp giải thích quan hệ về kích thước ống kính trên các hệ máy. Ống kính 8mm f/2 trên hệ máy ngắm-chụp có thể rất nhỏ, trong khi ống prime 200mm f/2 cho máy DSLR thì rất là to.
Khi chụp, hãy nghĩ trị số f-stop là những "lát cắt" trong không gian: trị số f-stop nhỏ (vd f/1.4) tương đương một lát cắt mỏng trong khi f-stop lớn (ví dụ f/16) là một lát cắt dày hơn nhiều. Đó là một cách hiểu đơn giản về DOF (depth of field – độ sâu trường ảnh rõ).
6. Kích thước ảnh hưởng đến chiều sâu
Độ mở của ống kính kiểm soát độ sâu trường ảnh rõ – vùng có độ nét chi tiết chấp nhận được nằm ở trước và sau đối tượng lấy nét. Với độ mở lớn (trị số f-stop nhỏ) thì DOF sẽ nông trong khi độ mở nhỏ (f-stop lớn) sẽ cho trường ảnh rõ sâu, ghi lại rõ ràng các chi tiết cảnh.
Độ phóng đại làm giảm độ sâu trường ảnh và ngược lại nên có thể tăng hoặc giảm độ phóng đại bằng cách di chuyển đến gần hoặc xa chủ thể chụp. Sử dụng ống kính tele cho phép giới hạn DOF bằng cách tăng độ phóng đại, còn ống kính góc rộng thì tăng DOF lên. Một điều nữa là các cảm biến cỡ nhỏ trên máy ảnh ngắm-chụp cho DOF thay đổi khá rộng, trong khi DSLR cho độ sâu này ở các giá trị giới hạn hơn.
Do đó, nếu sử dụng lấy nét tay trên máy ảnh ngắm-chụp, có thể giảm DOF bằng cách lấy nét từ xa về gần đến đối tượng cần lấy nét. Ngay khi đối tượng ra khỏi vùng đủ nét thì quay ngược lại để đưa nó trở về vùng đủ nét.
7. Khẩu độ nhỏ không cho ảnh luôn nét
Thông thường, ống kính luôn đạt độ nét cao nhất tại khẩu độ trung bình, chứ không phải nhỏ nhất. Điều này ngược với cảm nhận là khẩu nhỏ cho DOF sâu thì sẽ cho độ nét tối đa. Tuy nhiên, khi chụp tại khẩu độ nhỏ nhất sẽ có xu hướng làm giảm chất lượng ảnh, nghĩa là, khi so sánh ảnh chụp ở 2 khẩu khác nhau, ảnh chụp ở khẩu nhỏ sẽ sâu hơn, nhưng ngay tại vùng lấy nét sẽ có đôi chút kém nét hơn so với ảnh chụp ở khẩu lớn.
Vì vậy nếu muốn độ nét tối đa, nên tránh chụp ở khẩu độ nhỏ nhất. Thông thường ảnh chụp sẽ nét tối đa ở khẩu độ nhỏ hơn khẩu độ lớn nhất của ống kính từ 2 đến 3 stops, ví dụ, ở ống kính có khẩu tối đa là f/2.8 thì ảnh sẽ nét nhất khi chụp ở f/5.6 hoặc f/8.
Gợi ý, khi chụp, bạn nên sử dụng bảng SQF để kiểm tra độ mở phù hợp cho ảnh nét nhất đối với mỗi ống kính.
8. Đến gần chủ thể hơn bằng kỹ thuật macro
Ray hỗ trợ lấy nét khi chụp macroCó rất nhiều thiết bị có thể hỗ trợ ống kính máy ảnh lấy nét ở khoảng cách cực cận, nhưng không gì bằng một ống kính macro thiết kế riêng cho nhiệm vụ này.
Khoảng cách lấy nét tối thiểu của ống kính không phải là cách tính khả năng chụp macro (ví dụ, ống 100mm có thể lấy nét ở 10cm sẽ phóng to chủ thể lên hơn nhiều so với ống 50mm chỉ lấy nét được tối thiểu ở khoảng 8cm).
Thay vào đó, ống kính macro được đánh giá dựa theo khả năng phóng đại đối tượng, tính bằng độ dài tiêu cự chia cho khoảng cách lấy nét tối thiểu của ống kính. Theo đó, ống kính 100mm có thể lấy nét tại tối thiểu 10cm tức 100mm sẽ có độ phóng đại tương đương 1x hay 1:1, tức kích thước thật của đối tượng.
Vì đó, khi lấy nét với độ phóng đại lớn, tốt hơn hết nên di chuyển máy theo chiều trục ống kính hơn là sử dụng vòng xoay lấy nét. Sử dụng thanh ray lấy nét để tăng độ chuẩn xác.
9. Không có ống kính hoàn hảo
Méo tuyến tính trên ống kính máy ảnhKhông có ống kính nào hoàn hảo mà chỉ có ống kính chất lượng thấp hơn ống kính khác. Trong các yếu tố đánh giá chất lượng ống kính, méo tuyến tính là dễ nhận ra và gây nhiều bực bội nhất vì nó có xu hướng bẻ cong đường thẳng theo hướng đi vào (méo lồi) hoặc ra khỏi (méo lõm) khuôn hình. Tất nhiên, ngày nay các lỗi này có thể dễ dàng loại bỏ nhờ các phần mềm chỉnh sửa ảnh.
Cũng vì khả năng định hướng lại các tia sáng nên ống kính còn có tác dụng như một thấu kính, chia ánh sáng trắng theo thành phần phổ tạo nên lỗi viền tím (chromatic aberration – CA) tạo ra viền màu và giảm độ nét, nhất là ở vùng rìa ảnh. Người chụp có thể giảm hiện tượng này bằng cách khép khẩu nhỏ hơn.
Lỗi tối góc của ảnh là hiện tượng ảnh chụp bị tối ở góc, nhất là ở độ mở lớn vì vậy có thể khắc phục bằng cách khép bớt khẩu và dùng phần mềm xử lý.
Lỗi bóng mờ khi chụp trực tiếp về nguồn sáng mạnh, gây hiện tượng mờ ảnh và tạo bóng quang phổ (hay bóng ma – ghosting) trên ảnh. Khắc phục bằng cách sử dụng loa che sáng và đôi khi bằng cách khép bớt khẩu.
Chú ý, hiện tượng méo ảnh thường gặp ở vùng rìa ảnh. Nếu ống kính gây méo ảnh thì nên thay đổi bố cục ảnh hoặc đi lùi lại để đưa các đường thẳng ra khỏi vùng rìa này.
10. Trò chơi thị giác
Ảnh chụp bằng ống kính mắt cáNhiều ống kính được thiết kế với mục đích tạo góc nhìn khác hẳn so với cách nhìn thông thường.
Ống kính mắt cá là đại diện tiêu biểu vì nó tạo ra góc nhìn siêu rộng, giữ nguyên yếu tố méo ảnh để lấy được trường ảnh rộng hơn so với ống góc rộng thông thường. Ảnh tạo ra có thể là ảnh toàn cảnh hoặc ảnh tròn (với viền đen xung quanh).
Một số ống kính có khung để xoay nghiêng cho phép kéo mặt phẳng lấy nét để hướng vùng lấy nét vào một khu vực rất nhỏ trong khi các vùng ảnh khác sẽ bị làm mờ hết. Nếu xoay theo hướng khác thì gần như tất cả mọi thứ sẽ bị sai nét. Vì vậy khi thao tác với ống kính tilt-shift đắt tiền, người chụp sẽ phải làm thật cẩn thận hoặc nếu không quá khó tính thì có thể chơi trò may rủi.
Các hiệu ứng trên thực ra là tạo sự cường điệu trên ảnh, nhưng thực tế cũng khá là vui và mở rộng giới hạn cho người chụp theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Chú ý, ố́ng kính mắt cá là công cụ đắc lực khi chụp ngoại cảnh, nhưng nếu biết cách sử dụng trong nhà, ví dụ trong cửa hàng hoặc khoang thuyền, cũng đem lại hiệu quả rất tốt.
Theo SoHoa

Chụp ảnh đẹp với máy ngắm-chụp

Bạn từng bối rối khi phải chụp cảnh đêm, những cảnh chuyển động nhanh hay khi chụp trong nhà với thứ ánh sáng âm u, khó chụp? Nếu bạn chỉnh đúng chế độ chụp và cộng với vài thủ thuật, bạn có thể "giải mã" nhiều "quyền năng" của chiếc máy ảnh trong tay mà trước đây bạn không nhận ra.
Chế độ chụp tự động (Auto Mode) trên máy ảnh thực ra là con dao 2 lưỡi. Chế độ này hoạt động rất tốt nếu bạn chụp trong điều kiện ánh sáng ban ngày hoặc trong phòng sáng trưng đèn nên rất nhanh chóng và tiện lợi để có được tấm ảnh ưng ý mà bạn ít phải cân chỉnh gì.
Tuy vậy, chế độ Auto này cũng có thể là sức ì khiến bạn không phát huy được tính sáng tạo của mình cũng như khó có thể chụp được những tấm ảnh đẹp nhất và thể hiện đúng ý đồ về ánh sáng, hiệu ứng ảnh như mong muốn.
Chế độ chụp tự động Auto Mode trên máy ảnh là con dao 2 lưỡi
Mặc dù mỗi loại máy ảnh có cách đặt tên khác nhau nhưng bạn có thể chọn các chế độ tương ứng bằng cách chuyển sang chế độ "Scene" (hoặc ký hiệu tương tự như vậy) để chọn chế độ chụp phù hợp trên menu màn hình. Vài máy ảnh đặt những chế độ thường dùng nhất trực tiếp lên vòng xoay điều chỉnh.
Bất kể máy ảnh nào, thậm chí cả máy ảnh ngắm chụp rẻ tiền nhất cũng có vài chức năng chỉnh sửa ảnh nằm ẩn bên trong trình đơn (menu). Máy ảnh tầm phổ thông nhất cũng có vài chế độ định sẵn (thường sách hướng dẫn kèm theo gọi là "scene").
Các chế độ này đã chỉnh sẵn mọi thiết lập cho từng môi trường cụ thể nào đó và thường cho ảnh đẹp hơn so với chụp ở chế độ Auto. Và nếu bạn sử dụng máy ảnh ống kính rời (SLR - single-lens reflex) hoặc một máy ảnh có khả năng điều chỉnh thủ công thì bạn hoàn toàn có khả năng "luyện" tay nghề lên một cấp độ mới, "cao tay" hơn hẳn so với chụp tự động.
Vậy chế độ chụp định sẵn hoặc chụp chỉnh thủ công sẽ cải thiện được chất lượng ảnh đến mức nào? Một nhiếp ảnh gia của PCWorld Mỹ đã chọn ra 6 cảnh mà ta thường chụp nhất, trong đó có vài cảnh "khó" mà nếu muốn có được tấm ảnh ưng ý thì cần phải chỉnh thủ công. Cách thử nghiệm: mỗi cảnh người thử nghiệm (NTN) chụp vài tấm ở các chế độ khác nhau gồm: Auto, chế độ định sẵn tương ứng và chỉnh thủ công.
Trong hầu hết trường hợp, chụp với chế độ định sẵn cho chất lượng ảnh tốt hơn nhiều so với chế độ Auto. Trong vài trường hợp, chỉnh thủ công cho kết quả tốt hơn (hoặc khác biệt hoàn toàn) so với chế độ định sẵn. Đánh giá từ những thử nghiệm này, bài viết khuyến khích bạn dùng chế độ định sẵn thay vì Auto trong hầu hết trường hợp chụp ảnh.
Các thử nghiệm trong bài sử dụng máy ảnh Canon PowerShot S90 được đánh giá cao trong dòng máy ngắm-chụp. Máy cho chất lượng ảnh tốt, có nhiều chế độ định sẵn, có thể chỉnh thủ công khẩu độ, điểm lấy nét và dĩ nhiên là có chế độ chụp Auto. S90 cũng có ống kính góc rộng với khẩu f/2.0 và xử lý ISO tốt đối với dòng máy ống kính liền thân máy. Những đặc điểm này giúp S90 có thể chụp ở tốc độ nhanh, có được hiệu ứng trường ảnh rõ rệt và chụp cảnh thiếu sáng tốt.
Bài viết nhằm mục đích hướng dẫn cho người dùng phổ thông, người dùng không am tường về máy ảnh cũng như kỹ thuật chụp ảnh cơ bản, có thể dễ dàng làm chủ và tận dụng được hết tính năng mà máy ảnh mình đang có. Có thể tùy mỗi máy ảnh sẽ cho chất lượng hình ảnh khác nhau nhưng nhìn chung, bạn sẽ chụp được ảnh đẹp hơn và có nhiều tùy chọn điều chỉnh thủ công hơn với máy ống kính rời (DSLR); trong khi hầu hết máy ảnh dạng ngắm-chụp có ít tùy chọn và chất lượng ảnh không thể sánh bằng DSLR.
Chụp ảnh chân dung PortraitChụp chân dung (Portrait)
Thường chế độ chụp chân dung là tùy chọn đầu tiên trong menu của máy ảnh. Chế độ này được cân chỉnh sẵn để chụp nhân vật chỉ lấy phần đầu và vai. Phần lớn trong chế độ này, máy ảnh sẽ nhận diện gương mặt, lấy nét vào đó và cân chỉnh màu sắc nhằm cải thiện màu da người.
Trong nhiều máy ảnh mới xuất hiện gần đây, chế độ Auto thậm chí mặc định lấy giá trị của chế độ Portrait này nếu máy ảnh nhận diện được một gương mặt (hoặc nhiều gương mặt) khi bạn ngắm chụp.
Trong chế độ chân dung, máy ảnh cũng cố thu hẹp trường ảnh phía sau chủ thể: điều này có nghĩa máy ảnh lấy nét ở gương mặt và làm mờ cảnh nền phía sau, giúp người xem tập trung vào gương mặt hơn so với các vật thể ở xa.
Trừ khi bạn chụp chân dung trong điều kiện ánh sáng mạnh như chụp dưới ánh nắng, còn không máy thường tự động bật đèn flash. Điều này giúp ảnh hiện được mọi chi tiết trên khuôn mặt. Tuy vậy, khi bật flash, máy ảnh thường phải giảm cường độ đánh đèn để tránh bị dư sáng cho chủ thể.
Qua 3 ảnh thử nghiệm về chụp chân dung, ở chế độ Auto, đèn Flash thường đánh quá dư sáng khiến khuôn mặt sáng gắt hơn thông thường. Chuyển sang chế độ Portrait, ảnh trông đẹp hơn nhiều với ánh sáng đèn vừa đủ và màu da mượt mà hơn.
Chuyển sang chế độ chỉnh thủ công, NTN tắt flash và cố tận dụng ánh sáng tự nhiên bằng cách mở lớn khẩu độ và giảm tốc độ. Kết quả là ảnh trông tự nhiên hơn và tinh tế hơn. Dù vậy, chế độ Portrait nhìn chung cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ về ảnh chân dung.
Chụp cận cảnh (Macro)
Trong chế độ chụp cận cảnh, máy ảnh lấy nét ở cự ly ngắn nhất có thể khi bạn muốn chụp những vật thể nhỏ hoặc lấy được những chi tiết nhỏ nhất với độ nét cao nhất. Qua vài ảnh thử nghiệm chụp ở chế độ này, kết quả rút ra là để có được ảnh cận cảnh đẹp nhất thì bạn nên tự điều chỉnh và nên sử dụng chân máy.
Trong chế độ Auto, máy ảnh sẽ “tự ý” lấy nét ở trước hay sau đối tượng bạn muốn chụp vì thế nhiều chi tiết ở phần bạn muốn chụp lại bị mất nét. Chế độ Auto cũng đẩy giá trị độ nhạy sáng ISO lên đến 640, sử dụng thiết lập khẩu độ f/4.9 và tốc độ 1/250 giây.
Với ISO cao như vậy, sử dụng tốc độ chụp nhanh bạn sẽ tránh rung tay khi không dùng chân máy hoặc chụp vật thể đang di chuyển. Tuy nhiên, tốc độ càng nhanh và ISO càng cao cũng đồng nghĩa với việc hình ảnh ít chi tiết hơn nếu ta muốn cắt xén lại và thu nhỏ kích thước ảnh.
Khi chuyển sang chế độ chụp cận cảnh (Macro) trên máy, hình ảnh cải thiện rất nhiều so với chụp ở chế độ Auto. S90 điều chỉnh lấy nét rất tốt và giữ cùng thiết lập về khẩu độ nhưng giảm ISO xuống còn 320 và giảm cả tốc độ xuống còn 1/125 giây.
Còn với chỉnh thủ công, NTN chuyển sang lấy nét theo điểm để cố định điểm lấy nét trên bề mặt kim loại của đồng hồ để cho hình ảnh sắc nét hơn; đóng khẩu độ lại còn f/8.0 và chụp với độ nhạy ISO thấp hơn nhiều, chỉ ở 80; tốc độ 1/13 giây.
Việc kết hợp thiết lập ISO thấp, khẩu độ nhỏ và tốc độ chậm giúp ảnh thể hiện được nhiều chi tiết hơn, thậm chí điều này cũng giúp tấm ảnh ít bị nhiễu hạt trong trường hợp bạn muốn thu nhỏ kích thước ảnh.
Dù vậy, điều đáng chú ý là thiết lập thủ công mà NTN sử dụng trong bài chỉ thích hợp để chụp cận cảnh vật thể tĩnh vì tốc độ chậm nếu chụp vật thể chuyển động thì ảnh sẽ bị nhòe. Nếu bạn cần chụp cận cảnh vật thể chuyển động, hãy chuyển sang chế độ Macro sẵn có của máy, chế độ này tốt hơn so với chỉnh thủ công.
Chụp ảnh cận cảnh Macro
Chụp cảnh đêm (Night Scene)
Chế độ chụp cảnh đêm được cân chỉnh để chụp ảnh phong cảnh hoặc cảnh thành phố về đêm, lúc mà bạn không có được ánh sáng trời. Thông thường, bạn cần có chân máy khi chụp ảnh dạng này. Tùy vào máy ảnh của bạn, chế độ Night Scene có thể sử dụng tốc độ chậm, nghĩa là hình ảnh sẽ dễ bị mờ nếu bạn cầm máy trên tay để chụp.
Với chế độ Auto, hình ảnh không đẹp. Máy ảnh nâng ISO đến 800, mở khẩu độ rộng f/2.0 và có tốc độ khá nhanh: 1/15 giây. Do vậy hình ảnh mất đi độ chính xác màu và chi tiết. Máy ảnh cũng tự đánh đèn flash, do đó vùng phía trước ảnh bắt sáng, phản chiếu vào sương và đánh ngược trở lại máy ảnh.
Kết quả khi chuyển sang chế độ Night Scene vẫn gây nhiều thất vọng. Mặc dù máy ảnh điều chỉnh đúng tốc độ, giảm còn 1/2 giây và sử dụng ISO thấp hơn là 160 nhưng đèn flash vẫn đánh trong khi khẩu độ vẫn giữ nguyên ở f/2.0. Kết quả là hình ảnh gần giống như chụp ở chế độ Auto.
Chụp cảnh đêm Night Scene
Trong khi đó, với điều chỉnh thủ công, hình ảnh trông rất khác biệt so với 2 chế độ trên. NTN không dùng đèn flash để tránh bị phản chiếu. Tiếp đến, để tăng độ chi tiết, NTN chuyển sang ISO ở 100 và sử dụng tốc độ rất chậm, ở 6 giây. Tốc độ chậm cũng khiến mặt nước trông mượt mà hơn trong khi ISO thấp giúp cho màu sắc chính xác hơn. Tốc độ chậm còn cho phép mở khẩu độ ở f/5.6, làm tăng trường ảnh trong khi vẫn bắt được nhiều ánh sáng để cho tấm ảnh có được bố cục đẹp.
Chân dung đêm Night PortraitChân dung đêm (Night Portrait)
Mặc dù nghe giống với chế độ chụp cảnh đêm (Night Scene) nhưng chế độ chụp chân dung ban đêm lại hoàn toàn khác. Chế độ này được cân chỉnh để vừa có thể lấy được người phía trước và cả cảnh đêm phía sau. Nếu cân chỉnh tốt, một tấm ảnh chân dung chụp đêm sẽ thể hiện được 2 yếu tố này. Chế độ chụp này khá hữu ích cho những người thường đi thăm thú đây đó vì nó rất tiện để chụp được những tấm ảnh cho người thân, bạn bè ban đêm ở một vùng xa lạ mà vẫn lấy được cảnh vật phía sau.
Máy ảnh xử lý chế độ này theo nhiều cách khác nhau. Nhưng nhìn chung, máy ảnh đều sử dụng đèn flash để làm sáng chủ thể phía trước trong khi giảm tốc độ để bắt được khung nền phía sau bằng ánh sáng tự nhiên.
Một cách xử lý khác là không dùng đèn flash và chụp liên tục vài ảnh ở các khẩu độ khác nhau rồi sau đó kết hợp các ảnh lại để tạo một ảnh đủ sáng.
Máy ảnh sẽ sử dụng những ảnh dư sáng trong loạt ảnh đó để làm rực các chi tiết ở những vùng tối và cả những chi tiết trong vùng có ánh sáng đèn. Trong cả hai cách xử lý này ở chế độ chụp chân dung đêm, đôi khi bạn cần chụp với chân máy hoặc kê máy lên một điểm tựa cố định nào đó.
Qua thử nghiệm, chế độ Auto rất khó có thể bắt được những chi tiết ở cảnh nền. Vì đèn flash quá mạnh và tốc độ chụp hơi nhanh (1/30 giây) nên ảnh chỉ sáng được những chủ thể phía trước. Ví dụ như biển hiệu "Pier 28" phía sau ảnh thử nghiệm khó nhận ra được khi chụp ở Auto.
Với chế độ Night Portrait của S90, máy sử dụng đèn flash, mở khẩu độ ở f/2.2 và giảm tốc độ còn 1/8 giây. Hình ảnh ở chế độ này tốt hơn nhiều so với để ở Auto khi thể hiện được chi tiết cả ở phía trước lẫn cảnh vật phía sau và bạn dễ nhận ra được biển hiệu "Pier 28".
Máy ảnh cũng sử dụng ISO ở 500 để làm sáng tòa nhà và cây cầu ở cảnh nền, là những đối tượng mà đèn flash không thể đánh tới.
Còn khi tự điều chỉnh, NTN dùng đèn flash để chiếu sáng chủ thể phía trước nhưng giảm ISO còn 320 và giảm tốc độ chụp còn 0,6 giây để lấy được cảnh nền và giảm bớt độ nhiễu cho ảnh; đồng thời, chụp ở khẩu độ f/5.6 để có trường ảnh sâu hơn, làm nổi rõ chi tiết cảnh nền.
Tuy vậy, khác biệt giữa điều chỉnh thủ công so với chế độ Night Portrait không nhiều. Hiệu ứng của tăng giảm khẩu độ sẽ dễ dàng nhận ra hơn khi bạn chụp với dòng máy DSLR và các máy ảnh có kích thước cảm biến lớn.
Khi điều chỉnh thủ công với thiết lập khẩu độ như trên, bạn sẽ thấy được đèn đường ở cảnh nền lóe lên dạng ngôi sao. Bạn cũng có được hiệu ứng như vậy bằng cách chỉnh khẩu độ nhỏ hơn khi chụp với bất kỳ ánh đèn nào.
Thêm chút kỹ năng và sáng tạo, bạn có thể tận dụng đèn flash để tạo cho chế độ chụp Night Portrait hiệu quả hơn: nếu máy ảnh của bạn có hỗ trợ, bạn có thể chỉnh cho cường độ đèn thấp xuống để tránh bị dư sáng cho đối tượng phía trước, hoặc thậm chí bạn đặt một tờ giấy hoặc vải phía trước đèn flash để giảm cường độ của nó.
Chụp hoàng hôn SunsetChụp hoàng hôn (Sunset)
Nếu may mắn được thấy một cảnh hoàng hôn tuyệt vời thì bạn sẽ muốn là ghi lại được khoảnh khắc ấy. Chế độ chụp hoàng hôn thực ra là chế độ chụp phong cảnh (Landscape), nghĩa là máy ảnh thiết lập tiêu cự ở vô cực và chỉnh khẩu độ nhỏ để có được góc nhìn rộng và mọi vật đều không bị mất nét.
Tuy nhiên, có một điểm khác giữa chế độ Sunset và Landscape là chế độ Sunset tăng thêm tông màu đỏ nên tạo cho màu sắc hoàng hôn thêm phần rực rỡ. Cách chỉnh sửa màu sắc này có vẻ hơi "ăn gian" nhưng kết quả rất mãn nhãn.
Chế độ Auto nhận diện chính xác khung cảnh thử nghiệm là chế độ phong cảnh và vì nó không cân chỉnh màu sắc nên hình ảnh giống như màu sắc bên ngoài. Nếu bạn muốn có được tấm ảnh màu sắc chính xác và chi tiết khi chụp hoàng hôn, hãy dùng chế độ Auto.
Chuyển sang chế độ Sunset, màu trời có chiều sâu hơn, nhìn kỹ sẽ thấy những sắc ngả đỏ hơi giả. Nếu bạn cảm nhận màu sắc ảnh như vậy đẹp hơn ở Auto thì hãy chọn chế độ này khi chụp.
Còn với chỉnh thủ công, NTN cố chụp một cảnh hoàng hôn ấn tượng mạnh bằng cách sử dụng những bộ lọc màu. NTN đóng khẩu độ còn f/8.0 để tăng trường ảnh và sử dụng tốc độ chụp từ trung bình đến nhanh. NTN cũng tăng gam màu xanh dương, xanh lá, đỏ và độ tương phản để có được tấm ảnh đậm chất nghệ thuật.
Tùy vào thông số chọn lựa, ảnh trông sẽ rất khác biệt: đôi khi mọi thứ ngả sang màu vàng ấm, đôi khi tăng một chút màu xanh da trời, và thỉnh thoảng mọi thứ ngả sang màu đỏ hơi hồng.
Vài người khi xem qua các tấm ảnh chụp hoàng hôn ở 3 chế độ chụp này đều thích những ảnh chụp ở chế độ Sunset hơn. Màu sắc ở chế độ Sunset và chỉnh thủ công đều trông có vẻ giả tạo nhưng ở chế độ Sunset thì trông thực hơn cả.
Với cảnh chụp hoàng hôn, PCWorld Mỹ "chấm điểm" chế độ Sunset nhưng cũng tùy vào khung cảnh hoàng hôn cụ thể mà bạn nên chụp thêm vài ảnh sử dụng các chế độ màu sắc khác nhau mà máy ảnh bạn có hỗ trợ để có thể thấy được những khác biệt thú vị về các bộ lọc màu.
Chụp ảnh chuyển động
Chế độ chụp ảnh chuyển động được phân loại theo tên và chức năng. Như để chụp cảnh chuyển động dạng lướt qua, chọn lựa tốt nhất là bạn chụp ở chế độ liên tục hoặc còn gọi là chụp Burst.
Ở chế độ này, màn trập sẽ nhảy liên tục, mỗi tấm ảnh là một khung hình trong chuỗi khung hình liên tục đó. Nếu trong một giây bạn chụp được càng nhiều khung hình thì tỉ lệ bạn có được tấm ảnh mong muốn sẽ càng cao.
Chụp ảnh chuyển độngTuy vậy, điều không may là nhiều máy ảnh ngắm-chụp không hỗ trợ tính năng chụp liên tục. Hầu hết máy ảnh ngắm-chụp tầm phổ thông có một chế độ chụp tăng độ ISO để có thể lấy được nhiều ánh sáng và sử dụng tốc độ màn trập nhanh nhất để bắt đối tượng chuyển động.
Cách này khiến bức ảnh dễ bị nhiễu hạt và bạn chỉ có 1 cơ hội bấm máy để có được tấm ảnh chuyển động ưng ý. Chế độ này thường được đặt tên là "Sports" hoặc "Action", và thỉnh thoảng vài máy ảnh gọi là "Anti-blur", "High Sensitivity" hoặc "Kids and Pets".
Vài máy ảnh cũng có chức năng tự động lấy nét chủ thể chuyển động, là máy "bắt nét" vật thể chuyển động đó. Chức năng này nhìn chung hoạt động rất tốt nếu chủ thể mặc quần áo sáng màu hoặc có màu sắc tương phản mạnh với môi trường xung quanh.
Trong thử nghiệm, NTN nhận thấy chụp chuyển động nhanh giữa 3 chế độ: Auto, chụp với cảnh định sẵn và chỉnh thủ công đều không có nhiều khác biệt. Chế độ Auto tự động chuyển tốc độ lên 1/500 giây và khẩu độ ở f/6.3 để giữ cho nền được rõ nét. Mặc dù áo thun và giày của chủ thể hơi bị mờ nhưng chế độ Auto cho hình khá tốt.
Tuy vậy, ở chế độ "Kids and Pets" trên máy S90 thử nghiệm lại chọn khẩu độ 1/320 giây và so với chế độ Auto, hình ảnh hơi mờ một chút và khi phóng lớn thì ảnh hơi bị mất nét, có thể thấy rằng chế độ lấy nét tự động khó bắt dính được đối tượng.
Với điều chỉnh thủ công, NTN chỉnh tốc độ nhanh nhất có thể, chụp ở 1/1250 giây, bắt được đối tượng. Vì để tốc độ chụp nhanh như vậy nên hình ảnh sẽ hơi bị thiếu sáng nhưng rõ ràng là hình ảnh không bị mờ do mất nét và rung tay, và khi cắt xén, phóng to ảnh thì hình ảnh không bị nhiễu hạt do ISO.
Tuy vậy, khi chụp đối tượng chuyển động, không phải tấm ảnh nào "bắt dính" đối tượng, không bị mờ do chuyển động đều là ảnh đẹp. Trong những ảnh thử nghiệm trong bài, ta không thể nhận biết được đối tượng di chuyển nhanh như thế nào.
Bạn cũng có thể sử dụng vài phương pháp khác để chụp đối tượng chuyển động. Nếu máy ảnh bạn có thể chỉnh được tốc độ thì bạn có thể chỉnh làm sao cho đối tượng đang di chuyển trông như họ đang chuyển động nhanh.
Bằng cách giảm tốc độ và zoom gần vào và "lia máy" theo đối tượng, bạn có thể tạo được một vệt mờ phía sau đối tượng.
Đặt máy ảnh lên chân máy, ngắm vào một đối tượng đang chuyển động và chuyển sang tốc độ chậm cũng là một cách chụp cảnh giao thông về đêm rất tuyệt vời: cảnh nền trông rất sắc nét trong khi các dòng xe di chuyển tạo thành những vệt sáng chạy dài do đèn xe tạo ra. Áp dụng tốc độ chậm và chân máy cũng là một kỹ thuật phổ biến để chụp dòng nước chảy, lúc này bạn sẽ thấy bề mặt dòng nước rất mượt mà và bạn cảm nhận được tính "động" trong tấm ảnh.
Sơ lược về những điều khiển thông dụng
Tốc độ: dùng tốc độ màn trập chậm giúp bạn bắt được nhiều ánh sáng hơn và điều này cũng khiến cho đối tượng bị nhòe. Trong hầu hết trường hợp, bạn nên sử dụng tốc độ chậm với chân máy (hoặc chí ít là đặt máy trên một bề mặt phẳng, vững chắc). Miễn là máy ảnh và chủ thể đứng im, chụp ở tốc độ chậm là một vũ khí "thượng hạng" để có được tấm ảnh đủ sáng, nhiều chi tiết trong môi trường ánh sáng yếu.
Nếu bạn chụp tốc độ chậm với một đối tượng chuyển động thì sẽ tạo được hiệu ứng nhòe, làm cho tấm ảnh có nét sáng tạo. Trái lại, nếu bạn chụp đối tượng chuyển động với tốc độ nhanh thì có thể bắt đứng đối tượng chuyển động.
Khẩu độ: có thể xem khẩu độ là "cực âm" so với tốc độ là "cực dương" và bạn cần kết hợp chúng thật hài hòa thì mới có được tấm ảnh đủ sáng và đẹp. Khẩu độ mở càng lớn thì càng nhiều ánh sáng lọt vào ảnh nên bạn có thể chọn tốc độ nhanh hơn. Ống kính với khẩu độ lớn cũng cho phép bạn chụp với hiệu ứng trường ảnh cạn, nghĩa là đối tượng chụp rất nét và môi trường xung quanh mờ đi.
Tìm ra được "điểm ngọt" trên máy ảnh của bạn có thể hơi vất vả: vài kiểu kết hợp tốc độ và khẩu độ tạo được hiệu ứng ảnh rất đẹp như ảnh cố tình chụp thiếu sáng hoặc ảnh hoàn toàn dư sáng. Bạn có thể tìm ra được sự cân bằng giữa tốc độ và khẩu độ này bằng nếu máy ảnh có chế độ chụp ưu tiên khẩu độ (thường có ký hiệu "A", viết tắt từ Aperture priority) hoặc ưu tiên tốc độ ("S", shutter priority). Lúc này, bạn chỉ việc chọn tốc độ hoặc khẩu độ để cố định 1 thông số này, phần việc còn lại máy ảnh sẽ tự động điều chỉnh sao cho các thiết lập còn lại tối ưu.
Thiết lập cân bằng ISO: chỉ số ISO càng cao thì càng cho bạn chụp tốt trong những môi trường thiếu sáng và chụp với tốc độ nhanh mà không cần dùng đến flash. Mặc dù ISO làm sáng ảnh mà không cần quan tâm đến tốc độ hay khẩu độ nhưng thiết lập ISO cao quá sẽ có xu hướng làm giảm chất lượng ảnh. Với hầu hết máy ảnh ngắm-chụp, thiết lập ISO cao đồng nghĩa với việc ảnh sẽ bị nhiễu hạt. Thực chất, chất lượng của ảnh ISO cao là một trong những khác biệt lớn nhất giữa máy ảnh ống kính rời (DSLR) và máy ngắm-chụp. DSLR có cảm biến lớn, mạnh, có khả năng loại bỏ nhiễu hạt trong khi máy ảnh ngắm-chụp tầm phổ thông thì ngược lại.
Đẩy cao thiết lập ISO trong máy ảnh cũng còn ảnh hưởng đến độ chính xác về màu sắc. Máy ảnh thường có xu hướng thu nhận màu ngả sang đỏ hoặc cam khi bạn tăng độ nhạy sáng của cảm biến.
Theo PCWorld

Chụp ảnh theo phong cách tối giản hóa

Đôi khi khoảng trống trong ảnh lại có ý nghĩa nhiều hơn là khi nó bị lấp đầy. Vì vậy, hãy tạo khoảng lặng cho bức ảnh để thấy những tâm trạng sâu lắng khác thường.
Nhiều người đôi khi cố tìm cách làm đầy khung hình với những đường nét, hình khối… mà không biết rằng, chính việc nhồi nhét đó khiến ảnh trở nên quá phức tạp, gây cảm giác nặng nề khi xem. Vì thế, đôi khi sẽ rất thú vị khi bạn chỉ chụp một bức ảnh hoặc một phong cảnh mà chỉ tập trung vào những đối tượng cơ bản nhất với ít chi tiết nhất.
Mỗi lần đi chụp ảnh, hãy thử ngừng lại một chút để tư duy sắp xếp khung hình với những khoảng lặng, và nếu thực hiện đúng cách, bạn sẽ thấy có những bức hình dù đơn điệu nhưng lại mang đầy tâm trạng sâu lắng khác thường.
Dưới đây là một số ví dụ về ảnh phong cách này.
Ảnh của tác giả Brian Matiash
Ở bức ảnh trên, Brian Matiash đã sắp xếp để tạo nên một bức ảnh đen trắng rất đơn giản. Tác giả đã phá cách khi đặt đường chân trời ở giữa với quan điểm đôi khi bố cục hình ảnh và các đường dẫn trong khung cần phải như vậy. Tuy nhiên, nếu chụp ít trời và nhiều nước hơn, các bóng cột sẽ hiện ra nhiều hơn nhưng lại có thể mất đi bóng neo ở cuối ảnh. Còn nếu nhiều trời và ít nước thì bức ảnh sẽ mất đi sự thú vị của những chiếc bóng nhấp nhô phản chiếu.
Ảnh của tác giả Mike Olbinski 
Mike Olbinski chụp cảnh gia đình về người ông đã ở độ tuổi gần đất xa trời bên đứa cháu nhỏ. Sự đơn giản và tối thiểu hóa trong bức ảnh rất chặt chẽ. Ánh sáng trên chỉ vừa đủ để nhận biết cô cháu gái, các cây cọ ở cảnh nền đã góp phần tạo nên một khung cảnh không thể hoàn hảo hơn.
Ảnh của tác giả James Brandon 
Cuối cùng là một bức ảnh như tranh của tác giả James Brandon với toàn một nền trắng và một con chim ưng cô độc bay lượn. Để tăng cảm giác cho bức ảnh, tác giả đã chuyển thành đen trắng và tăng độ sáng để xóa nhòa bầu trời. Kết cục là một bức ảnh khá ấn tượng và thú vị.
Nếu chưa từng thử nghiệm chụp ảnh kiểu tối giản hóa, hãy đi và tự sáng tạo những bức ảnh của riêng mình với tâm niệm, không có khoảng không nào trong ảnh là không có ý nghĩa cả, kể cả khi khoảng không đó không thực sự chứa một nhân vật nào.
Theo SoHoa